Nguyễn Công Tiến (Halle, CHLB Đức): NGƯỜI XA LẠ

Thứ tư - 14/12/2016 05:56
LTS: Hãy cùng đọc một tự truyện chân thực và cảm động của tác giả Nguyễn Công Tiến (Halle, CHLB Đức) để hồi tưởng lại những bỡ ngỡ ban đầu cũng như những kỷ niệm về Giáng sịnh sau ngày nước Đức thống nhất.
Halle: Chợ Noel về đêm
Halle: Chợ Noel về đêm

Năm 1990 là năm một loạt các nhà máy nằm trên lãnh thổ nước Đức XHCN giải thể. Tất cả công nhân của những nước đã kí hợp đồng lao động với bạn, đều gói ghém đồ đạc, hòm xiểng chuẩn bị trở về cố hương. Khác với chủ trương của Trung Quốc, cả hai nhà nước Đức và Việt Nam đã đạt được thoả thuận: Cho phép những công nhân tự nguyện, được ở lại sống trên mảnh đất tươi đẹp này. Đội công nhân lắp ráp ô tô Wartburg tại thành phố Halle có 12 người đăng kí không hồi hương, tôi là người đầu tiên ghi tên vào danh sách này. Ngày ấy, những công nhân bị đẩy ra đường, không phải ai cũng có đủ can đảm để sẵn sàng đương đầu với một tương lai rất mờ mịt phía trước, ngay nơi đất khách quê người.
 
Công việc đầu tiên đối với những người như tôi là tìm thuê nhà ở. Đó là cả một núi khó khăn! Một xã hội đang trong giai đoạn hỗn mang như vậy, ưu tiên số một để ổn định đời sống công nhân, tất nhiên phải là người Đức. Đã mang cái thân quốc tịch nước ngoài, cứ phải xếp hàng dài dài. Để giải quyết khó khăn trước mắt, tôi và hai người bạn nữa được anh Tuấn - thực tập sinh ngành dược - cho ở nhờ cùng căn phòng 24 mét vuông trong ngõ nhỏ Fohlenweg – Halle/Neustadt. Hàng sáng, sau khi anh Tuấn đã đi làm, ba thằng chúng tôi cũng khoác ba lô mang theo những thứ đã mua ở Việt Nam ra phố tìm chỗ để bán. Nào là Kimônô, nào là phông cá sấu, bò mài, bấm móng tay, con công nhựa... có cái gì, lôi ra hết để nhanh chóng thu tiền Mác về. Tối đến, nấu nướng qua loa (chủ yếu là chân giò và thịt bụng heo luộc), rồi rải báo ra nền nhà, bốn anh em mới hỉ hả bia rượu. Anh Tuấn thì được ngủ trên cái giường một, còn ba thằng chúng tôi, tiện đâu lăn ra đó. Đứng đường mời khách cả ngày, mệt! Thằng nào cũng ngáy như cồ cộ...

Sau này, nhờ sự giúp đỡ của cô Liên phiên dịch, tôi thuê chung với thằng Long một căn hộ 3 phòng, trong khu nhà cổ 4 tầng cũ kĩ và gần như đã bị bỏ hoang từ lâu. Không có lò sưởi, tường nhà ẩm mốc và đường ống dẫn nước thì đã gỉ ngoèn... Cô Liên mới về, bổ sung phiên dịch cho đội sản xuất máy làm bánh mì. Đội này toàn người miền Nam, ở đây cũng đã có một phiên dịch, nhưng người này lại không biết mẩu tiếng Đức nào, thế mới hay! Vào làm việc với người Đức trong nhà máy, anh ta toàn xì xồ tiếng Anh... Hồi ấy, vì thương anh em công nhân ở lại không biết tiếng Đức, lại lạ nước lạ cái trong hoàn cảnh khó khăn, cô Liên đã giúp nhiều người đi liên hệ tất cả các công việc, để mọi người ổn định cuộc sống. Có lẽ, cô là người phiên dịch duy nhất mà tôi được biết, không bao giờ lấy tiền thù lao của công nhân.

Khu nhà tôi ở, qua cái sân sau khoảng 200 mét vuông là tới một cái nhà kho. Trong đấy có một ông già người Đức chừng ngoài 60 tuổi, người cao lòng khòng, sống độc thân. Sáng nào, tôi cũng thấy ông xách một cái hộp đựng đàn Violon đi ra ngoài phố. Ông này rất lạ, thấy tôi, ông có vẻ lúng túng, đi thật nhanh và có ý lánh mặt. Tôi thắc mắc lắm: Ông già áo quần thì luộm thuộm; chiếc mũ “biên phòng” cáu bẩn, lúc nào cũng trùm kín tai; cách ăn ở như người vụng trộm... Vậy ông tài cỡ nào mà người ta dám mời ông đi biểu diễn? Cả dãy nhà bỏ hoang, chỉ có tôi và ông là hàng xóm láng giềng hay chạm mặt nhau nơi đầu cổng, nhiều lần đâm quen. Khoảng mấy tháng sau, nhân một lần ra quảng trường thành phố, tôi bất ngờ gặp ông già hàng xóm. Ông ngồi xế bên nhà “Rathaus” gần cửa ra vào một qũy tiết kiệm. Chiếc hộp đàn mở ra để trước mặt, bên trong đặt một mảnh giấy ghi dòng chữ: “Con gái tôi phải nằm viện, xin ông bà giúp đỡ”. Mặc dù rất muốn, nhưng sợ ông bị tổn thương tinh thần, tôi không dám lại gần để đặt mấy đồng bạc vào cái vỏ hộp rỗng không ấy. Mỗi tối, từ trên tầng ba nhìn xuống, thấy cửa sổ phòng ông sáng ánh đèn, tôi lại ngậm ngùi tự hỏi: Con người khốn khổ này đã sống ở cái nhà kho ấy qua bao đông rồi? Trong đó, cũng đã chắc gì có một cái lò sưởi?
Người đàn ông quỳ

Chuyện về những con người đói rét, làm tôi nhớ tới ngày ở Việt Nam. Năm ấy là năm 1986, tôi đóng quân trên đất Sơn Tây. Ngày nghỉ cuối tuần, mấy anh em trong khoa rủ nhau đi chơi chợ Nghệ. Mới ra đến đường “Cu Ba” thì gặp một đám người xúm đông xúm đỏ. Tôi ngó vào thì thấy một bà cụ già, bà nằm bên vệ đường. Bà đến đây từ lúc nào không ai biết, chỉ biết rằng, sáng ra người ta đã thấy bà nằm đấy rồi. Nhưng có một điều đặc biệt là bà nằm trên chính những sợi tóc của mình. Tóc của bà đã bắt đầu bạc trắng, nhưng chúng dầy và dài lắm, đến mức độ mà bà có thể bện nó lại thành một cái đệm, để nằm lên trên mỗi đêm. Gia tài của bà, duy nhất chỉ có vậy, còn lại là sương gió! Và chính cái gọi là “còn lại” đó đã giết chết bà. Tối hôm trước, còn mua cho bà được thanh kẹo lạc, sáng hôm sau, khi đại uý Thực ở Ba Vì lên, tôi được biết rằng, trận sương muối giá buốt đêm qua, đã giúp bà về với miền cực lạc... Không như bây giờ, ngày ấy xã hội ta còn “mông muội” lắm, cả người dân lẫn người làm công tác chính quyền còn rất “hồn nhiên” với những thân phận cơ nhỡ như vậy. Hình ảnh bà già xa lạ nằm chết bên vệ đường, ngay trên chính mái tóc của mình cứ ám ảnh tôi hoài.

Những tháng năm nước Đức đang tự lột mình, cơ thể mới đang còn tươi bấy chưa tự đứng lên được, tôi đã chứng kiến nhiều cảnh ngộ cùng quẫn, họ là những nạn nhân đầu tiên của một nguyên tắc mới trong xã hội tích luỹ tư bản ban đầu, nguyên tắc: “trả tiền ngay không tình nghĩa”. Họ là người đàn ông cụt hai chân suốt ngày lê la ở chợ Marktplatz; họ là cô gái ngớ ngẩn, có đôi chân và hai bàn tay nhiễm trùng sưng khủng khiếp, thỉnh thoảng ngửa tay trước quầy bán đồ ăn nhanh của tôi; hay họ như ông râu xồm bị bó chân, viết chữ rất đẹp trên mảnh giấy xin tiền, ngồi trước tiệm giày “Deichmann” bên đường Leipziger... Tuy nhiên giai đoạn bi tráng này đi qua rất nhanh trên đất Đức, nó qua như một cơn choáng nhẹ trong một cơ thể đang sung mãn. Nước Đức hùng cường và nhân văn, đã tự mình chữa lành vết thương cho dân tộc. Không những vậy, họ còn giang tay cưu mang những sắc tộc khác cùng sống trên mảnh đất phì nhiêu này... Năm 2004 - năm làm “vỡ” cái quán ăn ở thành phố Köthen - trở về Halle, tôi định bụng sẽ thuê một cửa hàng khác để kinh doanh tiếp. Do vậy, tôi không muốn làm đơn xin trợ cấp của thành phố. Một bà nhân viên của sở xã hội thấy tôi đưa trả lại tờ đơn, bà thoáng có vẻ ngạc nhiên, rồi ôn tồn thuyết phục:

- Ông không nhận trợ cấp của thành phố thì ông sống bằng cái gì? Tất cả những người đang ở nước Đức, đều có quyền được sống!

Cái lí và cả cái tình của người Đức là như vậy – có công ăn việc làm thì tự giác khai thuế đóng góp cho xã hội, thất cơ lỡ vận thì xã hội sẽ nuôi – mọi tình huống dù lớn hay nhỏ trong cuộc sống, đều có cả trong luật. Câu nói của người đàn bà làm ở sở xã hội năm xưa, làm tôi không bao giờ quên về tính ưu việt của một nhà nước “thị trường định hướng xã hội”, mà suốt 70 năm qua người Đức miệt mài xây dựng.

Sau này, khi một số nước Đông - Nam Âu được ra nhập lLên minh châu Âu và có chân trong khối quân sự NATO, thì thành phần “cái bang” kiếm ăn trên đất Đức có sự thay đổi lớn. Trừ mấy anh chị nhầng nhầng tóc xanh, tóc đỏ chuyên dắt theo chó ngồi lê la ở cửa một số siêu thị là những người Đức chính hiệu “Germany”, còn lại đều là những người xa lạ. Thường là họ đến từ mảnh đất Ban Căng nghèo khó. Nói theo cách của các thi sĩ, thì: Những cánh buồm rách nát đó, đến từ hạ lưu dòng Đa Nuýp trong xanh và thơ mộng. Dọc đường Leipziger, người ta có thể quỳ trên cái gối đệm lưng cả buổi, để chụm tay xin tiền. Có một dàn đồng ca đủ thế hệ, nom như người Di gan, trình diễn - phân “bè” hẳn hoi - các loại giọng chua như dấm! Lại có những người hoá trang như tượng, đứng lặng im hàng giờ ngoài trời. Cuối cùng là mấy bà ục ịch quá khổ, lúc nào cũng chỉ rền rĩ một câu duy nhất “Hallo!”, khi ngửa cái ống bơ chờ lòng nhân từ của người qua kẻ lại. Họ cũng phải ăn, ở và sinh hoạt... Mỗi ngày họ xin được bao nhiêu cho đủ tiền nuôi thân? Ấy là chưa kể phải còn dành dụm để gửi về quê nhà... Người Việt Nam mình cũng có cái tính như vậy, ai cũng lo lắng dành tiền gửi về nhà giúp đỡ gia đình. Nhưng người Đức không nghĩ như thế. Tôi quen một cặp vợ chồng Đức - Việt, thấy vợ mình cứ hay gửi tiền về quê, anh chồng người Đức ngạc nhiên nói: Đã ở Đức rồi, tao không hiểu chúng mày cứ gửi tiền về Việt Nam làm cái gì? Người Đức nghĩ rất khác người nhà mình. Có khi mẹ sống một mình tầng dưới, nhưng con lại thuê một phòng độc thân ở tầng trên. Muốn gặp con, phải gọi điện cho nó để hẹn giờ. Họ thích tự do, đó là điều cơ bản. Còn tiền hả? Đã có nhà nước bao cấp, chẳng chết đói đâu mà sợ! Người già đều có lương hưu dư dả, cùng lắm nhận trợ cấp xã hội, vẫn sống khoẻ. Rất mừng là, đã gần 30 năm sống trên quê hương thứ hai này, tôi chưa bao giờ phải nhìn thấy cảnh đồng hương của mình đi ăn xin ngoài hè phố. Tuy nhiên, ăn cắp và ăn cướp lại dính lao lí khá nhiều. Ôi! Đó cũng là một vết nhơ quốc thể!

Tết Giáng sinh liền kề với Tết mừng Năm mới, người Đức được nghỉ nhiều ngày và thoả sức mua sắm. Cửa hàng nào cũng nhộn nhịp khách khứa. Đây là thời cơ tốt đẹp nhất cho những người hành khất phương xa. Họ có thể kiếm được bộn tiền nhờ vào lòng trắc ẩn của khách qua đường. Hàng năm, chợ Noel ở thành phố Halle/S tưng bừng nhộn nhịp cả tháng trời. Đến chiều ngày 24.12, tất cả các quầy trong chợ đều phải thu dọn đâu vào đấy để trả lại quảng trường cho thành phố. Noel năm ấy, mải làm việc, lúc ngẩng đầu lên thì tiếng chuông nhà thờ đã điểm 14 giờ, tôi chạy vội đi mua một số thứ cần thiết. Qua cửa hàng mĩ phẩm “dm” và nhà băng “Sparda”, vẫn thấy mấy bà người Rumani ngồi xin tiền. Tôi cho mỗi bà 2,- Euro (nguyên tắc không thành văn ở đất này là: Nếu “boa” cho người làm công thì phải là tiền đồng. Nhưng bố thí cho người ăn xin thì chỉ cần tiền xu cũng được, ai cho tới 1-2 Euro là khá hậu hĩnh). Có bà còn hỏi với: Ông có cái gì đấy có thể ăn được không? Thực tâm, tôi không thích cho mấy bà này, bởi các bà làm tôi nghi ngờ: Một tối trở về, đi đến gần ngõ nhà mình, tôi thấy một chiếc xe VW cũ, loại 12 chỗ ngồi đang nổ máy. Cầm lái là một người đàn ông đã đứng tuổi, ông ta đang hối thúc mấy bà ăn xin lên xe. Những bà này thường ngồi gần tiệm móng nhà tôi, nên tôi còn biết cả những vụ cãi chửi nhau của họ. Có lẽ, hàng ngày chiếc xe này có nhiệm vụ đưa họ đi và đón họ về ăn ngủ trong một căn hộ nào đó... Cùng với sự “biến mất” của những người ăn xin khác trên địa bàn trung tâm Halle, tôi nghi: Đây là một đường dây bảo kê ăn xin của một băng nhóm tội phạm?

Nhưng người mà tôi cần tìm hôm đó lại là người khác – một ông kéo đàn gió. Là người Âu, nhưng ông chỉ nhỉnh hơn tôi một tí. Phong vị theo kiểu nông dân cục mịch cùng với khuôn mặt thật thà chất phác, ông dễ làm khách qua đường có thiện cảm. Ở quê, nhà ông có một mảnh ruộng, nhưng sau thu hoạch cũng chỉ đủ bột làm bánh mì. Cuối năm, khi những mầm lúa đã ngoan ngoãn ngủ đông dưới lòng đất lạnh, ông lại khoác phong cầm ra đi tới những miền xa lạ. Ông này thường ngồi trên một chiếc hộp đàn và chơi rất có hồn những bài tình ca bất tử như: “Chiều Maxcova”, “Cây thuỳ dương”, “Đôi bờ”. Đươc nghe lại những bản nhạc này, trong tôi vẫn thường bùi ngùi nhớ về những kỉ niệm ở Việt Nam xa xôi của mình. Đôi khi, ông cất tiếng đầy thống thiết bài “Papa” của Paul Anka. Bài hát đơn giản như một câu chuyện kể, về một trải nghiệm sống của người cha thân yêu: Nuôi con cái lớn khôn, không phải để báo hiếu cha mẹ, mà để chúng ra thử sức với đời... Nhưng ấn tượng nhất đối với tôi là bản “Sóng Đa Nuýp” của Losif Ivanovich: Điệu Waltz nhanh trữ tình dìu dặt, luôn nâng tâm hồn người nghe đến với cơn say, trên những ngọn sóng lấp lánh, của con sông đẹp tuyệt vời và mơ mộng vào bậc nhất châu Âu.

Tôi ra hơi muộn, ông ta đã không còn ở đấy nữa. Giờ này chỉ riêng phố Leipziger – đường dẫn ra ga - là còn có người đi! Nghĩ vậy tôi quyết định tìm. Quả nhiên ông đã ngồi lại bên phố và đang say sưa với cây đàn. Tôi tiến lại gần:

- Chúc một ngày tốt đẹp!

- Vâng! Chúc một ngày tốt đẹp!

- Ông chưa về à?

- Chưa! Đến 18 giờ mới ra ga đi Leipzig, sau đó đi xe Bus khoảng năm tiếng là về tới nhà.

- Ông về đâu?

- Rumania.

- Sang năm mới, chúc ông mọi sự tốt lành!

- Vâng! Tôi cũng chúc ông như vậy và cảm ơn đã cho tiền...

Quay lưng đi vội, tôi chỉ chúc ông sang năm mới có cuộc sống tốt đẹp hơn, không dám chúc ông đón giáng sinh vui vẻ - như câu chúc quen thuộc của người Đức. Bởi tôi biết rằng, vào thời khắc này mà chưa về, vẫn phải mang cái thân già ra ngồi đây kéo đàn, thì chẳng ai có một giáng sinh vui vẻ! Đi đã khá xa, tôi vẫn nghe được tiếng nhạc dập dìu mà người đàn ông khốn khổ đang cống hiến bằng cả trái tim mình.
 
Người kéo đàn gió

Chắc nhạc sĩ Ivanovich không thể ngờ được rằng, bản “Sóng Đa nuýp” của ông không chỉ chiếm đỉnh cao, trang trọng, trong thế giới âm nhạc hàn lâm, mà nó còn có giá trị không nhỏ, giúp những người đồng hương xa lạ của mình, kiếm từng xu trên đất khách quê người.
 
Rồi tình chưa phai, xin đừng nói thương biệt li
Bến xưa gặp nhau, nay đâu ngờ là bến li tan
Lệ sầu buông rơi, theo ngọn sóng đi tìm ai
Tháng năm dần trôi, em mong hoài mà chẳng thấy anh về!

Halle/S. 2016 - mùa Đông  

Tác giả bài viết: ​​​​​​​Nguyễn Công Tiến - NguoiViet.de

Chú ý: Vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn NguoiViet.de khi đăng lại bài viết trên để tránh vi phạm bản quyền.

Tổng số điểm của bài viết là: 22 trong 5 đánh giá

Xếp hạng: 4.4 - 5 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây