Nguyễn Công Tiến (Halle/Saale): BẾN LỆ AM (Phần 1)

Thứ hai - 04/12/2017 07:21
Truyện ngắn được tác giả viết dựa theo một chuyện có thật, xảy ra tại sân bay Bạch Mai - Hà Nội năm 1981.
Nguyễn Công Tiến (Halle/Saale): BẾN LỆ AM (Phần 1)


Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu…”

Một mảng không gian tĩnh mịch, u uất. Một dải thời gian ngưng đọng, lắng sâu. Cả một vùng sông nước sóng bạc lấp lánh sáng loà, được rọi chiếu từ một mảnh trăng thu. Bên kia là bến xa mờ đục, càng làm cho vận khí âm - dương nơi đây trở nên lạnh lẽo vô cùng. Đêm khuya thanh vắng, người ta bỗng nghe văng vẳng đâu đây có tiếng đàn, tiếng hát ở một nơi sâu thẳm, như được vọng lên từ dưới đáy sông.

Nhưng bến này không phải là bến Tầm Dương, mà là Lệ Am. Chẳng biết tự bao giờ, đã xưa lắm rồi người ta gọi tên bến đò đó là Lệ Am, bởi lẽ, đó là nơi ở của hai con Am Am (tên một loại ma sống dưới nước, theo quan niệm của cư dân, miền trung du ven sông Cái). Hằng đêm, chúng từ dưới sông rẽ nước đi lên, đến bụi lau gần bờ, xoã tóc ngồi khóc nỉ non.

Cậu ruột tôi dáng người thấp đậm, râu tóc đã bạc trắng, tay chống gậy trúc, chân trần rẽ đám cỏ tranh, đưa tôi đến một triền đồi - nơi đó có lối mòn đi xuống bến Lệ Am xưa. Đứng trên cao, nhìn dòng nước mật quánh phù sa cuồn cuộn chảy về xuôi, ông đã đọc hai câu thơ trên trong “Tỳ bà hành” để bắt đầu kể cho tôi nghe câu chuyện về bủ Bếp. Ngày ấy đã lâu lắm rồi, chẳng còn ai nhớ nổi nữa. Cái thời khai sinh lập địa, người thì ít, ma quỷ thú dữ thì nhiều vô kể. Lối mòn dẫn xuống bến Lệ Am ngập trong lau lách. Dọc hai bên đường, rễ cây rừng cuộn vào nhau, gồng lên như những đàn rắn độc. Sóng nước vỗ bờ mải miết ngày đêm, nó bào dần lòng đất thành những bờ vực chênh vênh, ầm ào đất lở. Đò chỉ là một con thuyền độc mộc, do cha con một người trong núi Buộm ra vừa đâm cá, vừa chèo đưa khách qua sông.

Nơi đầu dốc đi xuống bến đò có một quán nước, mái lợp cỏ tranh, vách đan phên nứa đứng xiêu xiêu. Trên chiếc chõng tre, chủ nhà bày vài ba bó sắn luộc, nải chuối, dăm quả thị, đĩa trầu và nồi nước vối. Đó chính là quán nước của bủ Bếp. Bủ Bếp trông hiền lành phúc hậu. Mái tóc bủ đã pha màn sương và đôi mắt không còn tinh nhanh nữa. Bủ Bếp rất kiệm lời, nhưng lại hết sức ân cần tử tế. Khách bộ hành, ai lỡ độ đường hay chuyến đò đêm, đều được bủ lo cho một chỗ nghỉ. Rét thì đốt củi sưởi, đói thì luộc sắn luộc khoai ăn. Dân quanh vùng quý bủ lắm, săn bắn được thú rừng, họ đều chia cho. Nhà dột nát, họ chặt cây cắt tranh lợp giúp.

Bủ Bếp có một cô con gái tên gọi Thiên Hương. Thiên Hương đã tới tuổi trăng rằm, đẹp như hoa xuân nở đầu non. Môi đỏ như son trầu, nước da trắng tựa ngó cần và cô có một suối tóc đen mượt dài chấm gót. Đã đẹp người lại đẹp nết, hàng ngày cô chăm chỉ lên nương cuốc đất trồng sắn, trồng khoai; xuống bãi bới đất trồng rau. Khi ở nhà thì ngày ba buổi, cô xuống sông xách nước giúp mẹ. Lần nào xuống bến, cô cũng bỏ khăn, xoã tóc ngắm mình dưới dòng nước trong xanh. Đám thiếu niên ở Ao Trâu, núi Buộm, mỗi lần cho ngựa ra sông uống nước, mải ngắm Thiên Hương mà quyên cả lối về. Bủ Bếp thương chồng bao nhiêu thì lại thương con bấy nhiêu. Năm Thiên Hương lên hai tuổi thì cha chết trận. Bà đã địu con vượt suối, vượt ngàn dòng dã mấy đêm ngày, đến tận nơi đây để tìm cho được xác chồng.

Lớn lên, Thiên Hương bộc lộ nhiều thiên hướng “cầm kỳ thi hoạ”. Bài “Đò ơi” do cô tự soạn, mỗi khi cô cất tiếng ca, nghe trong vắt như tiếng chim rừng gọi sáng. Lần nào nghe con gái hát, bủ Bếp cũng thổn thức. Nghe tiếng gọi đò, bà tưởng như nghe tiếng gọi của lòng mình, tới người chồng ở nơi nghìn trùng xa cách.

* * * 

Trong núi Buộm có một nhà giàu họ Kiều, mấy lần đánh tiếng mai mối, định hỏi xin Thiên Hương về làm dâu, nhưng cô không chịu. Cô thương mẹ phải sống lạnh lẽo một mình bên bến đò hưu quạnh. Nhiều lần bủ Bếp lựa lời khuyên nhủ, nhưng cô vẫn một mực từ chối. Một hôm cô thủ thỉ với mẹ rằng, cô đã gặp một người… Bà gặng hỏi mãi thì cô mới kể rằng: “ Bữa kia, con nằm chiêm bao, gặp một người con nhà Xích đế. Người ấy có đôi mắt sáng, tiếng nói lớn mà thanh tao. Trán rộng, răng lớn, hàm vuông. Tính tình trầm lặng, nhân hậu”. Nghe xong, bủ Bếp lấy làm lo lắng trong lòng.

Chiều tối hôm đó, bủ Bếp ra mộ chồng thắp hương. Bà vẫn nghiệm rằng, mỗi khi cuộc sống của hai mẹ con gặp điều gì trắc trở, ông vẫn luôn ở bên bà để chỉ đường dẫn lối. Thắp liền ba tuần hương và ngồi bên mộ chờ trời tối, bà mong rằng khi màn đêm buông xuống, ông sẽ dễ nhận ra đường mà theo bà về nhà. Khói nhang quẩn quanh nơi ông nằm, phần lặn vào những ngọn cỏ, rồi thấm sâu vào lòng đất ẩm. Phần thanh thoát lên cao, rồi nhoà vào trời mây thăm thẳm…

Quả nhiên đêm đó ông về.

Vào khoảng canh ba, khi bủ Bếp bắt đầu thiu thiu trên võng, bà bỗng thấy ông đứng ngay bên mình. Khuôn mặt ông hốc hác, sạm đen màu chiến trận, mình để trần, bám đầy nắng gió. Cầm tay bà một lúc, ông chậm rãi:

- Tôi thương hai mẹ con bà quá. Vì thân xác tôi mà bà và Thiên Hương phải sống nơi đường hoang ngõ vắng. Bà phải luôn nhớ rằng, nơi đây xưa là bãi chiến trường, trên bờ cũng như dưới sông, người chết nhiều vô kể. Xác của họ không được chôn cất tử tế, nên xương cốt cho đến nay vẫn bị đất lở sóng vùi. Họ trở thành ma đói, ma khát lang thang khắp nơi, mong tìm được người thân để trở về quê cha đất tổ. Tuy vậy, âm - dương cách trở, muôn sông ngàn núi điệp trùng ngăn cách, những âm hồn vô hình đã an bài ở cõi khác, dù có muốn nhiễu nhương cũng không thể xâm hại được đời sống của người hữu hình. Cũng như vậy, không dễ gì mà người trên dương thế, lại giao hoan, hay tầm nã được kẻ dưới âm phần. Khi người ta chết đi, xương cốt nằm đâu thì hồn phách tinh anh ở đấy. Tôi may mắn được mẹ con bà tìm thấy và chôn cất tử tế, nên mới có thể về thăm nhà một cách dễ dàng. Còn hàng trăm vạn tráng sỹ đã phơi thây nơi chiến địa, đêm nào cũng ôm nhau than khóc, rồi lang thang đến tận những nơi thâm sơn cùng cốc, mà vẫn bằn bặt đường về quê hương.

Ông đỡ bà ngồi dậy, bủ Bếp nắm chặt tay chồng:

- Ông đã về! ông ơi! Ngày đêm mẹ con tôi mong nhớ ông vô cùng.

Bà thấy tay ông lạnh lắm, người sống ngoài kia chắc chịu nhiều sương gió. Ông sửa lại vành khăn đã tuột trên đôi vai gầy của vợ, rồi hỏi bà:

- Tôi nói, bà có thấu lòng tôi chăng?

Bủ Bếp cắn chặt môi để cố kìm tiếng nấc. Bà khẽ gật đầu, rồi nhìn ông chờ đợi.

- Tôi nói thế, là nói tới thân phận những người làm ma như tôi trên này. Nhưng riêng loài Am Am dưới sông lại khác. Chúng là loài ma nước, chuyên ẩn mình nơi sông hồ. Người chúng chỉ nhỏ như đứa trẻ lên mười, hình hài đầy lông lá, quái dị như giống đười ươi trong động. Bộ lông của chúng rất dày không thấm nước, bởi thế chúng rẽ nước sông hồ đi lại như thường. Những đêm mưa phùn gió bấc, vào khoảng canh ba, chúng hay lên ngồi ở những đoạn sông thanh vắng, xoã tóc che mặt nói chuyện như người. Nhưng ngược lại, chúng rất sợ gặp người và ánh sáng. Từ vạn vạn năm rồi, Am Am đã bị một lời nguyền truyền kiếp: Chỉ khi nào dìm chết được người thì mới được lên bờ làm ma cạn, với bóng hình đẹp đẽ. Nhà ở của chúng là lớp bùn nhơ dưới đáy sông hoặc ao hồ. Khi tìm được người tương đồng thanh khí, đúng thời khắc là chúng nhập hồn vào người đó, dùng lời lẽ du dương dẫn họ đi.

Bủ Bếp sợ quá, nắm chặt tay chồng:

- Mình ơi! hôm trước Thiên Hương nằm mơ, tôi sợ lắm. Hay là có một người, con nhà Xích Đế đã thành Am Am định bắt nó đi? Làm thế nào giữ được con chúng ta?

Không trả lời ngay, ông vuốt nhẹ lên mái tóc đã điểm bạc của vợ, rồi ôm bà vào lòng. Cảm giác ngất ngây của hạnh phúc năm nao, đang trỗi dậy trong lòng người đàn bà đã mười lăm năm ở vậy nuôi con. Bà thấy hai người như đang bồng bềnh trên con đò được nhẹ khua mái chèo và lướt đi trong làn sương buổi sớm. Bà và ông cùng yên lặng, để lắng nghe từng nhịp thở của nhau, để tận hưởng những giây phút hạnh phúc hiếm hoi nhất trong cuộc đời… Bỗng nhiên có một cơn gió lạnh nổi lên. Bủ Bếp thoáng thấy trong gió có mùi tanh của binh khí, rồi bà nghe thấy có tiếng quân reo, lẫn trong tiếng trống trận dập dồn. Ông càng xiết chặt bà vào lòng mình hơn, rồi nói:

- Tôi đã trở về với thiên cổ từ lâu, nhưng cho đến nay vẫn là quân sỹ của triều đình. Chiến trận liên miên, nay đây mai đó, cho nên không phải lúc nào cũng ở bên hai mẹ con được. Trống đã giục, đã đến giờ tôi phải đi rồi, bà dẫn tôi đến chỗ Thiên Hương, để tôi được thấy con của chúng ta khôn lớn…

Đoạn ông cúi xuống, nhìn sâu vào mắt bà:

- Bà hãy ghi nhớ lời tôi dặn!

Bủ Bếp nước mắt chan hoà ngước nhìn chồng:

- Trăm năm, tôi xin ghi tạc trong lòng.

Ông nhẹ nhàng nói tiếp:

- Tôi chỉ có thể biết trước được điềm hay gở, mà báo mộng lại cho bà thôi. Còn nếu số phận của con như vậy, tôi cũng không thể cứu được. Nhưng bà phải luôn nhớ rằng, nhà ta ở gần sông, bà chớ nên để con xuống đó một mình vào lúc chiều đêm hay khi đúng ngọ. Đó là những thời khắc mà Am Am vẫn ngồi dưới đáy sông rình người… Nói đoạn, ông lạy bà ba lạy rồi quay gót, dấn thân vào màn đêm thăm thẳm, lãng đãng sương bay.

Bủ Bếp choàng tỉnh dậy, bà vội vàng lần ngay theo lối ông vừa ra, thì chỉ thấy cánh cửa liếp (cửa đan bằng tre nứa) vẫn còn lay động như có ai đó vừa mở. Ngoài kia là đêm đen, lạnh giá không một bóng người.

* * * 

Kể từ ngày ấy, bủ Bếp đinh ninh nhớ lời chồng dặn, bà không để Thiên Hương xuống sông lấy nước nữa. Sáng, chiều làm việc gì cũng có hai mẹ con. Nghe lời chồng, bà âm thầm chuẩn bị cho công việc chuyển nhà vào sâu trong núi Buộm. Cuộc sống của hai mẹ con cứ vậy trôi đi. Cho tới một hôm, bủ Bếp phải lên rừng hái lá thuốc để chữa bệnh cho một người ở Ao Trâu. Bà ra đi từ sớm tinh mơ, định bụng sẽ trở về trước giờ ngọ. Nhưng đường đi phải tránh hổ báo, nên mãi khi trời xẩm tối, bà mới xuống được tới chân núi. Nghĩ về Thiên Hương, bà lo lắng vô cùng, chân bước mà tưởng như không chạm đất. Chưa tới ngõ mà bà đã hối hả gọi con. Nhưng tịnh không có tiếng trả lời. Linh tính báo cho bà biết, có việc chẳng lành. Hết lên nương, lại xuống bến gọi tìm, nhưng bà vẫn không thấy bóng dáng Thiên Hương. Đêm ấy đám trai tráng trong núi Buộm và Ao Trâu, chia nhau lên rừng, xuống sông, đốt đuốc sáng rực cả một vùng để tìm Thiên Hương, nhưng đến tận sáng, họ đành tay không trở về.

Vậy là Thiên Hương đã bỏ bà mà đi rồi. Cọp bắt hay Am dìm, bà cũng không biết nữa. Ngày bỏ ăn, bà vật mình sầu thảm; đêm ra mộ ông cầu khấn, mà không thấy ông về. Xót thương thân con còn non nớt, phận con quá mỏng manh, bủ Bếp khóc than tới khô đôi dòng lệ. Từ đấy trở đi, thui thủi một mình, bà sống một cuộc đời đau đáu nhớ thương.

Mãi cho tới một chiều kia, khi mặt trời vừa khuất sau đỉnh cao nhất của núi Buộm , màn đêm bắt đầu buông xuống, thì có một người trẻ tuổi xuống bến gọi đò. Bên kia sông, cha con người đâm cá chưa kịp động mái chèo sang đón, thì thình lình có một cơn gió nổi lên, trời đất mịt mùng, mặt sông cuộn mình, dậy sóng lớn. Ngay đó, mưa giăng kín trời, không biết đâu là bến bờ. Vậy là người trẻ tuổi phải ngược lên túp lều của bủ Bếp để tá túc. Chờ đã lâu mà thấy mưa không ngớt, bủ Bếp bấm ngón tay, rồi quay ra nói với người khách trẻ: „Tới khắc này mà trời vẫn không tạnh, thì đêm nay không qua sông được đâu. Cháu giở tay nải ra, hong cho khô quần áo, ta đi nấu cơm rồi cùng ăn”. Bủ Bếp dùng một ống tre nhỏ để thổi lửa. Than hồng từ một thân củi gộc, làm bùng cháy đám bùi nhùi. Lát sau, những cành củi khô bắt lửa nổ tí tách. Túp lều đang lạnh lẽo âm u, chợt bừng lên ấm áp. Lúc này ánh sáng bập bùng của ngọn lửa, soi rõ khuôn mặt người khách trẻ. Bủ Bếp giật mình: “sao người lại giống người?”- mắt sáng, trán rộng, hàm vuông… Người đang ngồi trước mặt bà đây, trông đúng như con gái bà đã tả trong giấc mơ của nó năm xưa. Bủ Bếp lạnh hết cả chân tay: “Chúng nó đã có tiền duyên với nhau chăng? Hay con ta vẫn còn sống và đang ở đâu đó?”… Vừa mừng, vừa sợ, bà toan đánh bạo hỏi chuyện người trai trẻ, thì người ấy cáo bệnh, xin đi nằm… Đêm hôm đó, bên ngoài, trời vẫn gió mưa vần vũ. Nghĩ đến Thiên Hương, bà không sao chợp được mắt. “Nhưng thiên hạ trăm vạn người, cũng có người giống nhau, sao lại cứ vận vào với con mình?”. Tuy vậy, bà vẫn định bụng, sáng sớm mai nhất định phải hỏi người khách lạ cho rõ ngọn ngành.

Gần tới canh ba, vừa chợp mắt được một lúc, bủ Bếp chợt tỉnh, bà nghe văng vẳng đâu đó có tiếng người gọi đò. Lúc đầu, tiếng gọi nghe đâu xa tít từ mãi dưới bến Lệ Am, sau càng ngày càng rõ dần. Khi nó đến trước sân nhà bà thì tự dưng im bặt. Bủ Bếp từ từ ngồi dậy, bà nghe bên ngoài có tiếng chân bước rón rén lại gần, rồi một lúc sau có những tiếng động rất lạ, chúng giống như móng vuốt của một con dã thú cào cấu lên tấm cửa liếp. Bà lặng im đến ngẹt thở. Chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, thì bà bỗng nghe bên ngoài có tiếng người cất tiếng hát. Thanh âm có khi nhỏ nhẹ, đằm thắm thiết tha, có khi lại vút cao trong vắt như tiếng hót của chim rừng gọi ánh bình minh. Bủ Bếp bàng hoàng, bà ngồi bất động trên chõng lắng nghe, như uống từng lời, tùng chữ của lời ca. Đúng là giọng của Thiên Hương con gái bà. Bài “Đò ơi” này, năm xưa không biết bao nhiêu lần, nó đã từng vừa đàn, vừa hát cho bà nghe.

Bên kia, trên chiếc võng, người khách lạ trở mình hai ba lần, rồi bỗng từ từ ngồi dậy. Một lúc sau như bị mất hồn, anh ta thẫn thờ đi về phía cửa. Bủ Bếp chợt nhớ lại lời của chồng mình năm trước: “Loài Am này, khi đã tìm được đúng người tương đồng hoà hợp, nhập được vào hồn phách của người ấy, rồi thì chúng dụ người ta bằng những lời hát du dương, hay thủ thỉ vào tai người ta những lời đường mật ngọt ngào. Con người, khi đã bị trúng dụ kế của nó, thì chỉ biết mê muội làm theo”. Không còn nghi nghờ gì nữa, Thiên Hương con gái nhỏ tội nghiệp của bà, đã bị biến thành Am Am và đêm nay, nó trở về đây để dụ dỗ người trai trẻ này. Tiếng nói của ông như vẫn vọng bên tai bà: “Dìm được một người chết đuối, Am Am sẽ được lên bờ làm ma cạn. Chúng sẽ thoát kiếp bùn nhơ, thân hình sẽ không còn xấu xí nhầy nhụa nữa. Tuy không được ở với người, nhưng chúng vẫn được mang hình hài xưa, đẹp đẽ, thanh tân”. Nghĩ tới đó, bủ Bếp thấy trong lòng nhẹ nhõm muôn phần. Vậy là con bà sắp có cơ duyên gặp lại cha mẹ. Bà sẽ lại thấy được dung nhan xinh đẹp của nó như xưa, sẽ lại được chuyện trò cùng con mỗi đêm, khi nó về thăm nhà.

Bên ngoài, tiếng gọi đò ngày càng da diết. Người khách trẻ vẫn thẫn thờ bước đi như không hề biết gì xung quanh. Khi anh ta đi ngang qua chiếc chõng tre, bủ Bếp chợt thoáng nhìn thấy khuôn mặt. Bà nhớ lại chiều qua bên bếp lửa: đó là một khuôn mặt thông minh , tuấn tú, đúng là con nhà Xích Đế. “Chẳng có lẽ một con người như thế, một cơ thể tráng kiện, đẹp đẽ nhường ấy, chỉ một lát nữa thôi, sẽ trở thành một thây ma chôn vùi dưới lòng sông tăm tối?”. Lúc này người khách lạ đã đi tới bên cửa và muốn rút chốt then cài. Chỉ còn một khắc ngắn ngủi nữa thôi… “Không! người ta cũng như con gái ta năm xưa, hồn nhiên và trong trắng. Chúng không có tội tình gì. Người này có cha có mẹ, nếu chết đi, chắc rằng bậc sinh thành sẽ đau đớn lắm. Họ cũng sẽ đau đớn như chính ta đã từng”. Nghĩ đoạn, bủ Bếp chợt vùng dậy rút chiếc roi dâu nơi đầu giường, bà sấn tới, quất túi bụi vào người khách trẻ. Phải mất một lúc lâu, anh ta mới tỉnh, nhưng không thể nhớ được chuyện gì đã xảy ra.

Bủ Bếp đốt đuốc lên, cùng người thanh niên mở cửa ra ngoài. Họ kịp nghe tiếng Am Am gieo mình xuống dòng nước lạnh và trên mặt đất, chỉ còn thấy những vết chân như người, đi thẳng xuống bến Lệ Am. Trở lại nhà, mặc cho người khách trẻ ân cần thăm hỏi, bà khóc con cho mãi đến tận sáng ngày sau… Ba ngày liền, bà ra mộ chồng thắp hương để tạ tội cùng ông. Rồi sau đó, chờ mỗi đêm buông xuống, bà lại ra bến Lệ Am, dâng rượu thịt, cầu xin quỷ thần cho Thiên Hương lên để bà gặp mặt. Nhưng đau đớn thay, bà chỉ nhận được sương bay gió thổi và mặt sông lạnh lẽo, dồn từng đợt sóng vỗ lên bờ. Trở về nhà, bủ Bếp như người mất hồn, ngày đêm bà bị hành hạ bởi nỗi ám ảnh Thiên Hương. Thiên Hương trong bà bây giờ  đã là hai con người khác hẳn: Một kẻ là ác quỷ ghê sợ, còn kẻ kia là đứa con gái thuỳ mị, nết na. Mỗi sáng tỉnh giấc, bà mong sao tất cả chỉ là một giấc chiêm bao. Bây giờ, cũng như đã bao ngày nay, bà mong ông về vô cùng...

* * * 

Tiết đông đã lập lâu lắm rồi, hôm nay vùng sông Cái này mới có một đêm mưa phùn gió bấc. Nằm tới qua canh hai, bủ Bếp chợt tỉnh giấc thì nghe phiá bờ sông có tiếng người. Linh cảm có chuyện với mình, bà vấn vội khăn, khoác áo tơi rồi băng qua vườn chuối sau nhà. Rẽ đám lau sậy cuối vườn, nhìn xuống rệ sông, bà thấy hai con Am Am, tay chúng dài quá gối, lông lá phủ kín mình, xoã tóc ngồi bên nhau thầm thì to nhỏ. Đến gần, thì bà nghe được một con nói rằng: “Chị ơi, số em chưa đậu, bữa trước em đã toan dụ được một Nam Vương, hình hài phương trượng, mặt đẹp như ngọc. Nhưng cuối cùng bị mẹ cản, nên em phải chạy xuống nước”. Con Am đưa hai tay lên bưng mặt thổn thức. Nó vừa oán trách mẹ không giúp nó thoát khỏi kiếp Am để lên bờ, lại vừa thương nhớ mẹ, sớm hôm một mình thui thủi trong đớn đau. Con Am đó chính là Thiên Hương con gái bà. Nghe được những lời của nó, bà như đứt từng khúc ruột. Bà hiểu rõ nỗi niềm đau đớn của Thiên Hương, nó khát khao được làm ma trên cạn, để được gặp cha và trở về thăm bà. Bủ Bếp cố lại gần hơn để nhìn cho rõ mặt con mình, nhưng vừa thoáng nghe tiếng động, hai con Am Am ôm nhau nhẩy ùm xuống nước. Bà đến chỗ hai con Am, và ngồi ở đó rất lâu. Gió bấc tràn về lạnh buốt. Nơi con bà vừa xuống, chỉ còn mặt sông tối đen, chỉ nghe tiếng sóng vỗ bờ ì oạp, và tiếng lau lách uấn lưng xào xạc như tiếng ai gọi thầm.

Những ngày sau đó, gan ruột bủ Bếp rối bời, bà thương nhớ con vô vàn, bà tự oán trách mình và cố nghĩ cách để cứu Thiên Hương. Mỗi khi màn trời buông xuống, bà lại cầu mong được gặp con khi nó lên bờ. Và ngày ấy đã đến. Lại một đêm gió mưa não nề, hai con Am Am lại rẽ nước lên ngồi bên bụi lau cuối vườn. Lúc ấy, trời đã gần sáng, bủ Bếp nghe được con mình nói:

- Chị biết không, ngày mai em được lên bờ.

Con Am kia hỏi lại:

- Sao em biết? Có duyên chăng?

Im lặng một lúc, con bà nói:

- Ngày mai là đúng ngày em bị dìm chết dưới bến hai năm về trước. Đã hai năm nay, em vẫn đi tìm người thế mạng… Người này, là em đã khổ công dụ lòng bấy lâu. Lúc hợp, lúc tan nhưng lần này thì đậu. Ngày mai, đúng giờ ngọ, người ấy sẽ đội nón sắt xuống bến.

Bủ Bếp trở về nhà mà lòng dạ rối bời: “Người đội nón sắt là ai? Sao lại đội nón sắt? Người ấy tương đồng thanh khí với con bà như thế nào?...”. Người mệt, nhưng bà không sao chợp mắt được. Nửa thì mừng cho con mình sắp thoát kiếp bùn nước tanh hôi, nửa lại thương cho ai đó là người thế mạng. Bủ trở dậy thắp hương trên bàn thờ chồng rồi thiếp đi. Lúc ấy, tiếng gà rừng đã bắt đầu gáy trên nương.

Ngay từ sáng hôm sau, bủ Bếp bỏ hết mọi việc, bỏ cả ăn cả uống. Bà ngồi liền bên chiếc chõng, vừa têm trầu bán hàng, vừa canh chừng người xuống bến. Bà ngồi đấy cả buổi, người qua người lại cũng có, nhưng tịnh không thấy ai đội nón sắt. Lòng nóng như có lửa đốt, bà lo sợ vô cùng. Mãi cho tới gần trưa, thì từ phía Ao Trâu có một bóng người đi tới. Bủ Bếp nhìn mãi, thì thấy người đó vai đeo tay nải, tay xách một chiếc chảo sắt. Người ấy tới quán của bủ Bếp thì dừng lại. Nhìn kĩ, bủ nhận ra đó là một thiếu phụ. Người thiếu phụ có khuôn mặt rất đẹp. Trông cô chất phác, hiền lành như một thôn nữ, nhưng con người vẫn toát lộ một vẻ đài các, đoan trang. Bủ có lời mời người thiếu phụ lưu lại uống bát nước. Hai người trò chuyện hàn huyên để biết gia cảnh. Thì ra người này về quê thăm mẹ ốm, hôm nay qua sông, trở lại nhà chồng. Nói chuyện một lúc, chưa kịp cắn dập khẩu trầu, thì bỗng đâu một trận gió cuấn cờ nổi lên. Cát bụi bay mù mịt. Trời sập xuống sát mặt sông. Những ngọn mưa bắt đầu quất xuống mái tranh ràn rạt. Thiếu phụ có ý bồn chồn trong người, cứ đứng lên rồi lại ngồi xuống, khắc sau đôi mắt cô bỗng dại đi, liếc xéo về phía bến đò. Biết là giờ Ngọ đã tới, bủ Bếp hắng giọng:

- Mưa to thế này, chưa có đò đâu, bá (tiếng địa phương, cách gọi tôn trọng người phụ nữ) đừng đi vội kẻo ướt. Tôi có nhời này muốn nói...

Như không nghe thấy gì, người thiếu phụ từ từ đứng dậy. Chị ta bỏ chiếc tay nải lại trên chiếc ghế tre, đội cái chảo lên đầu để che mưa, rồi quay lưng xuống bến.

Bủ Bếp hốt hoảng, tay chân luống cuống. Thời khắc mà bà lo sợ nhất đã tới - người thiếu phụ đã bị Am Am nhập hồn. Con gái bà đã phải dày công chuẩn bị cả năm trời, cho ngày hôm nay thoát xác lên bờ. Than ôi! chết đi rồi, nó vẫn còn một khát khao duy nhất, đó là được trở về bên cha mẹ và sống với dương gian của loài người. “Thôi, ta hãy nhắm mắt lại và đừng nghe thấy gì nữa, để cho con nó toại nguyện tấm lòng”. Gió mưa vẫn gào lên từng đợt. Cơn cuồng phong phũ phàng, cứ đẩy người thiếu phụ nhỏ bé chao đảo trên lối đi nhầy nhụa. Nhìn thấy nguồn cơn ấy, bủ Bếp lại đắn đo: “Làm như vậy có khác gì ta lấy oán trả oán? Chẳng lẽ thấy người sắp chết ngay trước mắt, mà lại ngoảnh mặt làm ngơ, không ra tay cứu giúp? Các cụ xưa đã dạy: Cứu người là công đức vô lượng. Người này chắc hẳn cũng có chồng, có con và một mái ấm gia đình. Ở nơi xa kia, chắc rằng các con của bà vẫn đang tựa cửa ngóng đợi mẹ về. Lẽ đâu lại một xác thân đẹp đẽ, vô tội nữa, bị vùi sâu trong bùn nước. Trời cao đất dày ơi! Lời nguyền khủng khiếp kia, đến bao giờ mới hoá giải được?”. Không kịp suy nghĩ gì thêm, bủ Bếp đứng vụt dậy: “Không! Ta không thể để mặc như vậy, con ta phải trở về, người mẹ trẻ kia phải sống và lời nguyền độc ác kia phải bị xoá bỏ”. Bủ rút nhanh chiếc roi dâu, rồi chạy theo đánh tới tấp vào người đàn bà khốn khổ. Chẳng một khắc chần chừ, bủ giằng ngay lấy cái chảo sắt, đội ngay lên đầu mình, rồi băng băng đi xuống bến đò…

Bủ Bếp đi, cứ đi, đi mãi. Lạ thay, đi đến đâu, nước rẽ ra đến đấy. Bủ cảm thấy thân mình nhẹ tựa làn khói mỏng, và như đang được bay lên trong mây nắng. Con đường bủ đi bỗng chốc rộng mở mênh mang, hai bên hoa trái rộ nở, và xen lẫn cả tiếng chim ca tưng bừng. Bủ Bếp cứ thế chìm dần, chìm dần, rồi khuất hẳn dưới lòng sông. Mặt nước khép lại và bỗng ngầu lên như máu. Khoảng trời phía trên chỉ còn lại gió mưa. Thiên địa mù mịt. Sấm chớp rạch ngang gầm trời, gào thét mãi cho đến tận sáng hôm sau mới dứt. Từ đấy trở đi, người ta không còn nhìn thấy bóng một con Am Am nào, và cũng không thấy có người nào bị Am dìm trên bến này nữa. Dân trong vùng bảo rằng bủ Bếp đã hoá thần, và họ đã lập đền thờ bủ trên ngọn đồi nhìn xuống bến Lệ Am.

* * * 

(Xin các bạn đón đọc kỳ tiếp trong những ngày tới)
Nguyễn Công Tiến

Chú ý: Chỉ được phép đăng lại bài khi có sự đông ý của báo NguoiViet.de hoặc tác giả!

 Từ khóa: sân bay Bạch Mai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Cảm nhận mới nhất
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây