Nguyễn Công Tiến (Halle/Saale): BẾN LỆ AM (Phần 2)

Thứ ba - 12/12/2017 07:53
Một câu chuyện tương tự đã xảy ra tại sân bay Bạch Mai - Hà Nội năm 1981...
Nguyễn Công Tiến (Halle/Saale): BẾN LỆ AM (Phần 2)


>> BẾN LỆ AM (Phần 1)

* * *

Hai cậu cháu tôi cùng ngồi lặng yên nhìn xuống dòng sông. Con nước đỏ nặng phù sa vẫn mải miết trôi về phương Nam. Nó đâu biết rằng, từ ngàn xưa, đã mang trên mình một câu chuyện hết sức nhân văn, từ một bến đò đầy nước mắt. Lát sau tôi quay sang hỏi cậu:

- Vậy từ nhỏ tới giờ, cậu có thấy ai bị chết đuối trên đoạn sông này không? - Cậu tôi bảo:

- Không biết ngày xưa thế nào, chứ đời cậu sống ở đây với ông bà, nay đã trên tám chục tuổi, cậu chỉ thấy có một lần duy nhất, bủ Bếp hiện lên dìm chết một người… - Nói đoạn, cậu tôi chống gậy đứng lên nhủ:

- Về thôi cháu, bây giờ khác xưa nhiều rồi - dương thịnh, âm suy - đi đâu cũng không sợ ma quỷ bắt nạt. Nhưng ở vùng này, khi trời bắt đầu tối, âm khí vẫn còn nặng nề lắm, không có lợi cho sức khoẻ. Ta về nhà đã. 

Chúng tôi men theo sườn đồi phủ đầy cây sắn, rồi xuống tới thung lũng. Bên kia rặng vầu, có một cái đầm rộng bát ngát, cậu tôi bảo đó là Ao Trâu, hồi còn nhỏ , cậu và ông ngoại vẫn đi đánh rọ  ven đầm. Suốt dọc đường về là những rừng cọ, đồi chè. Thân cọ uốn cong cao vút, sừng sững in trên nền trời không một gợn mây. Một mảnh trăng thượng tuần, mỏng như lá lúa treo lơ lửng sau những tán lá xoè rộng. Chúng phác vào mảng trời đêm một bức tranh tuyệt mỹ, đậm sắc núi rừng.

Nhà cậu tôi nằm trên lối đi vào núi Buộm. Qua một con lạch nhỏ, rồi ngược lên lưng chừng đồi là tới nơi. Căn nhà một gian hai chái, hàng cột cong queo được dựng bằng gỗ rừng trên núi . Xung quanh nhà được thưng bằng vách nứa. Mái lợp lá cọ lâu ngày, đã bị nắng mưa bào cùn đi xơ xác. Chính giữa nhà là một bàn thờ đơn sơ, do cậu tôi tự tay đóng, trên đó có hai bức truyền thần ông bà ngoại. Bên dưới đặt một bộ bàn ghế mộc, màu gỗ đã nhem nhuốc theo thời gian. Mợ tôi mắt hấp háy, bà quẹt lửa châm vào bấc chiếc đèn dầu Ma dút, khói đen bốc lên nghi ngút khắp nhà. Mợ đã chuẩn bị sẵn cho cậu cháu tôi đĩa lạc rang cả củ, và cút rượu sắn trắng đục mới cất hồi chiều. Sau khi rít xong mồi thuốc lào, cậu tôi lim dim mắt, thả khói lên cao, ông ngồi bất động để tận hưởng cái râm ran trong từng đường gân thớ thịt. Mở cái nút bằng lá chuối khô, rót cho mỗi người một ly mắt trâu, sau câu chúc cậu mợ mạnh khoẻ, tôi nhấm nháp vị cay nồng của từng giọt đắng, vị ngậy bùi của lạc và nghe cậu kể tiếp câu chuyện ban chiều.

Đận ấy là vào năm 1981. Họ Kiều trong núi Buộm có tiếng là giàu có từ xưa, nay càng hãnh diện, vì trong dòng họ có người làm cán bộ to. Đó là ông Hoàng Bao. Ông mang cái tên này từ thời hoạt động bí mật trong lòng địch. Tới hòa bình năm 1954, ông Bao đã giữ tới chức phó chính uỷ trung đoàn. Khi chính phủ về lại Thủ đô, ông được giải ngũ chuyển ngành và làm việc ngay ở Hà Nội. Gia đình ông không ở quê nữa, nhưng ông và cậu con trai cũng thỉnh thoảng về núi Buộm để săn bắn, nhân tiện thăm họ hàng. Người con trai của ông Bao đi bộ đội. Sau mấy năm theo học tại một trường quân sự, trở về, anh ta đeo lon tới cấp trung uý. Đó là trung uý phi công Kiều Tạc. Mỗi lần về thăm quê, vì lối vào Buộm quá nhỏ và lầy lội, hai cha con ông thường gửi chiếc Com-măng-ca ở huyện đội, rồi cưỡi ngựa, đeo súng săn về làng. Hào quang của họ sáng rực cả một vùng quê nghèo khó. Trên đường đi, ông gặp rặt những người ngày xưa đã từng che giấu ông hoạt động cách mạng; cho ông từng bữa sắn, bữa khoai. Nay gặp lại, thấy ông cao xa, sang trọng quá. Còn họ chỉ là những nông dân thất học, chân lấm tay bùn, cho nên mọi người chỉ biết đứng nép vào vệ cỏ cúi chào, mà không dám ngẩng mặt lên nhìn.

Trung uý Kiều Tạc phục vụ trong một đơn vị bay vận tải, của Quân chủng không quân. Doanh trại của anh ta đóng gần ngay sân bay Bạch Mai - Hà Nội. Kiều Tạc có vóc dáng cao gầy, tóc húi cua, hàm bạnh, bộ răng trắng, khoẻ đều tăm tắp. Đúng chuẩn của con nhà lính bay. Đặc biệt, viên trung uý có đôi lông mày rất rậm, và ẩn sâu bên trong là một cặp mắt sắc lạnh. Kiều Tạc đeo lon Uý, nhưng trên mình, từ mũ, quần áo, đến giày dép…đều là đồ của cấp Tá. Mỗi khi gặp các cán bộ cao cấp trong quân chủng xuống thăm đơn vị, anh ta đều chú chú, cháu cháu cực kỳ thân thiết. Trong mắt các cô văn công, hay bảo mật, viên trung uý trẻ ga lăng thực sự là một “hoàng tử” trong mơ.

Tuyến bay công vụ của trung uý Kiều Tạc là từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh, rồi ngược lại. Từ khi được ông Bao xin cho về bay chính ở tiểu đoàn này, Kiều Tạc mất ngủ mấy đêm liền để tìm phương án chắc ăn nhất… Thời ấy, hàng hoá ở trong Nam thì nhiều vô kể, nhưng ngoài Bắc thì lại thiếu tới cả bánh xà phòng. Đường xá vào Nam ra Bắc thì vạn lý gập gềnh, hiểm nguy. Đây chính là điều kiện hết sức thuận lợi cho Kiều Tạc tổ chức một đường dây buôn lậu. Y đã thiết lập được hai cơ sở “đặc tình” ở cả hai thành phố lớn để buôn hàng “đánh” từ Campuchia về. Hàng đã mang ra được đến Hà Nội, đều đắt như vàng. Một lãi mười, mười lãi trăm, lãi nghìn… mà đường bay quân sự lại an toàn tuyệt đối, nên Kiều Tạc rất hăng hái công tác, không bỏ lỡ cơ hội nào.

Từ ngã tư Sở, theo đường Tàu Bay đi về Vọng, khoảng vài trăm mét là tới đầu kho gạo. Ở đấy có một quán nước mang tên “Cây dừa”. Quán, là của một người đàn bà đã chừng năm mươi xuân. Bà ta có một bộ khung cao lớn, nhưng lại gầy đét, da dính vào xương, chẳng khác gì mụ phù thuỷ vẫn được vẽ trong truyện tranh của lũ trẻ. Hai mí mắt lúc nào cũng đánh xanh lét, cặp môi chuối mắn tô đỏ màu tiết gà. Trông dung nhan ấy, ai cũng bảo: mụ này ngày xưa cũng đã từng “vang bóng một thời”. Cánh lính trẻ vào ra uống nước, gặp anh nào, mụ cũng “mợ mợ, con con”, rồi giới thiệu khéo hai cô “con gái” xinh đẹp. Ít tiền thì ngồi làm chén cuốc lủi, nhắm với đĩa lạc rang. Nhiều tiền thì lên trên gác vui vầy với con gái của “mợ”.

Ngay từ thời còn là học viên, luyện tập ở đơn vị dự bị bay gần đấy, Kiều Tạc đã nhẵn mặt với nơi này rồi. Bây giờ, sau mỗi chuyến vào Nam ra Bắc, y lại chọn nhà “mợ” để lên gác hưởng thụ, và tẩu tán hàng lậu. Chỉ cần vài chuyến bay, đời Kiều Tạc đã phất lên như gió.Sau chiến tranh chống Mĩ, đời sống của người dân đói khổ trăm bề. Giờ, cả nước lại phải chuẩn bị cho cuộc chiến đấu chống giặc phương Bắc, tình cảnh càng trở nên cơ cực. Trong khi thiên hạ đang lâm vào cảnh đói không có cái ăn, ốm không có thuốc uống…, thì viên trung uý trẻ suốt ngày cưỡi Honda 67 lượn vè vè. Nếu không xì xụp trong hàng phở, thì y cũng phưỡn bụng ở quầy bia. Có tiền, anh ta sa đà vào một lối sống khác hẳn mọi người… Nhưng cái kim nằm trong bọc, lâu ngày cũng phải lòi ra. Chính vì từ lối sống ăn chơi truỵ lạc của Kiều Tạc, mà an ninh quân đội đã phối hợp cùng công an, theo dõi và bắt quả tang Kiều Tạc đang chuyển thuốc phiện cho bà chủ quán “Cây dừa”. Ngay đêm đó, y bị bắt.

Nhận được hung tin, ông Hoàng Bao đứng ngồi không yên, lòng nóng như có lửa đốt. Ông từ chối mọi cuộc hẹn ở cơ quan, để quay máy sang quân chủng nhờ bạn bè giúp đỡ. Hết giờ làm việc, ông ngồi lỳ trong phòng suy nghĩ mông lung. Ông bắt đầu tự trách mình: “thấy nó mang nhiều tiền về xây nhà mà không hỏi. Lấy tiền đâu để mua Honda, mua áo lông Đức, áo Na tô, nhẫn vàng?...Tuy nhiên, giờ xảy ra cơ sự này, cũng là tại ông. Xin cho con về đơn vị ấy, không phải là ông không có chủ ý. Giờ thì đã muộn… nhưng không phải là hết. Còn nước, còn tát”. Nghĩ vậy, ngay đêm đó, ông bảo lái xe đưa ông đến nhà riêng của một cán bộ cao cấp bên quân chủng không quân. Ông định nhờ cậy vào tình đồng đội cũ, để chạy tội cho con, rồi xin cho nó chuyển công tác sang đơn vị khác.

Nhưng, sau khi điều tra lại vụ việc, ban thanh tra quân chủng vẫn kết luận: Kiều Tạc đã nhiều lần dùng máy bay quân sự buôn hàng quốc cấm. Sống vô kỷ luật quân đội, tha hoá về đạo đức… Y được trả về đơn vị cũ, đình chỉ mọi công tác, viết kiểm điểm, chờ án kỷ luật. Thế là hết cuộc đời binh nghiệp đang phơi phới trên chín tầng mây của viên phi công trẻ. Bị giam lỏng trong đơn vị, mọi người không ai dám quan hệ với y nữa. Xung quanh vắng lặng, suốt đêm nằm, y chỉ nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ, người như muốn phát cuồng. Mọi ước mơ về một cuộc sống vương giả đã tắt ngấm trong lòng Kiều Tạc. Tương lai trở nên mịt mù, thăm thẳm. Y bắt đầu chán ghét tất cả, căm thù tất cả: “phải làm lại cuộc đời” - y tự nhủ như vậy... Hàm răng trắng, khoẻ và đều tăm tắp nhếch ra một điệu cười nham hiểm.Vốn là một con người đầy mưu mô và nổi loạn, Kiều Tạc không chịu nằm chờ án kỷ luật của đơn vị. Hắn đã ra tay trước. Tận dụng đến phút cuối cùng cái mã to cao đẹp trai của mình, Kiều Tạc đã moi được từ mấy cô gái thông tin, kế hoạch đi công tác của một số sĩ quan tham mưu trong quân chủng…

Sáng tinh mơ hôm ấy, y bắt đầu hành động.Hai người lính gác cổng giơ tay chào, khi hắn khoác chiếc áo bạt sỹ quan Liên Xô màu cỏ úa bước qua. Một trong hai người lính hỏi:

- Sáng nay anh bay à?

Tay kéo cao thêm cổ chiếc áo, như để che bớt khuôn mặt hốc hác vì đêm mất ngủ, hắn trả lời khẽ:

- Ừ.

Rõ ràng đại đội cảnh vệ chưa được thông báo trường hợp bị cấm bay của Kiều Tạc. Bước qua cổng rồi, nhưng hắn vẫn thấy rờn rợn sau lưng, sợ một tiếng quát “đứng lại”. May thay, không có chuyện gì xảy ra. Trong sân bay, trời vẫn tối và mờ đục sương mù. Không gian yên ắng, chỉ có tiếng dế kêu ríc ríc trong cỏ. Hắn nghe rõ tiếng sột soạt theo nhịp đi của chiếc áo bạt và rõ cả tiếng tim mình đập thậm thình. Kia rồi, trong sương sớm, chiếc UH-1H mang số hiệu 576 đã sừng sững hiện ra. Kiều Tạc rân ran khắp người: “Ôi! cứu tinh của ta, cuộc sống của ta”.Vừa nhón chân chạy được mấy bước, hắn giật bắn người , bởi tiếng quát: “Ai? Đứng lại!”. Rồi một ánh đèn pin rọi thẳng vào Kiều Tạc. Y lấy tay che mặt, trước mặt y là một người lính còn non choẹt, tay lăm lăm khẩu AK.47, ngón tay trỏ đã đặt vào vòng cò. Hắn nhanh chóng lấy lại được bình tĩnh, vì biết người đối diện không đáng là đối thủ:

- Anh đây! Sáng nay anh bay mà.

Người lính cảnh giác hỏi lại:

- Sao anh lại ra sớm vậy?

- Anh ra trước để lắp bình điện và kiểm tra dầu máy. Cậu gác ca cuối hả?

Không cần nghe người lính trả lời, y hỏi tiếp:

- Có rét không? Hút điếu thuốc cho ấm!Hắn lấy bao “ ba số”, gõ gõ vào lòng bàn tay cho đầu thuốc tụt ra, rồi tiếp cận sát anh lính. Người lính trẻ vui vẻ khoác súng lên vai, dùng hai ngón tay kẹp một điếu. Khi anh ta vừa cúi đầu, khum lòng bàn tay che lửa, thì bị ngay một cú đánh như điện giật vào đúng gáy. Miệng vẫn còn ngậm dở điếu thuốc, người lính xấu số gục xuống chết ngay tại chỗ. Kiều Tạc vứt thanh sắt lên xác anh ta, y ngửa mặt lên trời, giang hai tay, tru lên như một con linh cẩu, rồi lao vút lên buồng lái… Chiếc UH-1 nhẹ nhàng bốc mình lên khỏi mặt đất, nó chao nghiêng một cách thiện nghệ, rồi nhằm thẳng hướng Bắc lao tới.

Lúc ấy, Hà Nội hiên ngang và nghèo khó, vẫn đang chìm trong giấc ngủ đông nồng nàn.

Bốn chiếc MIG-21 của một trung đoàn không quân phía Bắc được lệnh xuất kích. Họ có nhiệm vụ khoá cửa biên giới, quyết không để cho Kiều Tạc cướp máy bay chạy trốn. Lệnh bắn hạ được ban ra trên toàn tuyến. Nhưng sau nhiều lần đan dệt trên bầu trời, phi đội bay phải tay không trở về, vì không thể tìm thấy mục tiêu.

Kiều Tạc tính toán tinh khôn như một con cáo và đã có thừa kinh nghiệm. Hắn cho máy bay bay là là sát mặt nước để tránh sóng ra-đa. Cứ vậy, chiếc trực thăng mải miết quạt nước mà ngược dòng sông Cái. Hắn đã nhẩm tính từ trước và dự đoán khá chính xác thời gian cất cánh của những chiếc tiêm kích. Cho nên, vào đúng thời điểm mà bốn chiếc MIG lao lên, thì Kiều Tạc lại cho chiếc UH-1 nhẹ nhàng hạ xuống nằm im bên gốc đa cổ thụ, ngay mé đồi xuống bến Lệ Am. Ở đây đã có mấy người ra trước, chờ y từ lúc nửa đêm. Cây đa xum xuê hai thân này, tương truyền là đã mọc lên từ sau vườn của bủ Bếp năm xưa.

Nhưng con cáo già, dù có nhiều mưu ma chước quỷ đến đâu, cũng không tránh được lưới trời lồng lộng. Số là chờ một lúc lâu thấy êm, Kiều Tạc bắt đầu khởi động máy. Nghe tiếng máy nổ ròn rã, thấy cánh quạt quay tít, hắn khấp khởi mừng thầm, chỉ còn một chặng ngắn nữa là qua được ải. Hắn vô cùng phấn chấn: “Qua ải, ta chỉ cần trảm một thằng lính. Thế mới tài!”. Dứt cơn cười khằng khặc, y nghiến răng kéo cần lái. Chiếc trực thăng lại bốc mình lên khỏi mặt đất. Nhưng mới lên cao được khoảng mười mét, khi nó vừa định chao mình đổi hướng, thì bất ngờ cánh quạt chém vào cành đa. Chiếc trực thăng bị trọng thương, nó tròng trành, lật nghiêng lật ngửa, cố bay thêm được một đoạn ngắn, rồi đâm đầu xuống ngay mép nước.

Đúng lúc ấy, một cơn gió lạnh nổi lên. Gió mỗi lúc một to, rồi trở thành trận cuồng phong mù mịt. Sóng cuộn lên từ giữa sông, đánh vào chiếc trực thăng ầm ầm, bọt nước nổi trắng xoá. Mây đen kéo đến kín cả gầm trời, rồi mưa như đổ chĩnh.

Kiều Tạc nhảy ra khỏi buồng lái, nước sông ngập ngang bụng. Hắn đứng như trời trồng rất lâu, mắt cứ nhìn đăm đăm ra mặt sông mịt mùng dậy sóng. Không hiểu sao, lẽ ra phải lội quay vào bờ, thì ngược lại, hắn ta cứ giữa sông mà lừng lững đi ra. Khi nước đã ngập tới cổ hắn, dân quân trong Ao Trâu cũng vừa tới nơi. Họ bắn ba phát súng chỉ thiên để cảnh cáo, nhưng Kiều Tạc vẫn không ngoái đầu lại. Con nước cứ thế nhấn dần, nhấn dần hắn xuống. Một lúc sau mặt sông trở lại yên tĩnh, người ta không còn trông thấy bóng dáng của y đâu nữa.

Chuyện viên trung uý phi công người Buộm, bị rơi máy bay và chết chìm ở bến Lệ Am, nhanh chóng lan đi khắp vùng. Các cụ già trong Ao Trâu kể lại rằng, vào cái đêm hôm ấy, họ đã nhìn thấy miếu thờ bủ Bếp trên đồi bỗng nhiên sáng rực. Dân làng ven sông kháo nhau rằng, vào đúng thời khắc linh ứng đó, bủ Bếp đã hiện lên và xuống tay dìm chết tên phản bội.Sáng sớm tinh mơ hôm sau, hai cậu cháu tôi lại đứng bên bờ ngắm cảnh nước non. Dòng sông nặng đỏ phù sa như một dải lụa mềm, uốn lượn theo những luỹ tre làng. Bên kia bờ, xa xa là dãy núi đá ẩn mình trong sương. Một đàn cò trắng mải miết sải cánh trên nền xanh lam của núi rừng. Nhìn cảnh thôn dã, đẹp chẳng kém gì một bức tranh thêu. Cậu tôi cầm gậy trúc chỉ ra giữa sông nói:

- Chỗ giữa dòng kia, cách đây hơn ba mươi năm, là chỗ cây đa bủ Bếp, chính nó đã vít lộn cổ chiếc trực thăng xuống nước. Vì bờ bên kia bồi, bờ bên này lở, nên dòng chảy đã bị uốn đi ít nhiều. Tất cả những gì của cảnh xưa, nay đã nằm sâu dưới đáy sông rồi.

Tôi quay sang hỏi cậu:

- Liệu, cái chết của Kiều Tạc có sinh ra một loài Am mới?

Cậu tôi bảo:

- Lời nguyền năm xưa cho loài Am Am, đã bị bủ Bếp hoá giải. Bến Lệ Am đã trở lại thanh bình và bây giờ chẳng mấy ai còn tin vào chuyện ma quỷ, âm linh nữa. Duy có một điều chắc chắn rằng: Trong cuộc sống, kẻ nào mang tà tâm phản trắc, kẻ đó sẽ không có chỗ đứng trong chúng ta và chúng nhất định sẽ bị trời tru đất diệt. Số phận của từng sinh linh, sẽ do trời định đoạt, nhưng ta có thể biết chắc rằng, những người tốt khi chết đi, họ sẽ mãi mãi trở thành thần thánh, ngay chính trong lòng người đang sống.

Cậu tôi đứng như một pho tượng đá bên sông. Chòm râu cước phất phơ theo chiều gió. Ánh mắt của ông đặt nhẹ lên dòng nước thân thương. Đó chính là dòng sữa mẹ, từ ngàn năm qua, dòng sữa đã nuôi nấng biết bao người con đất Việt, để chúng ngày nay trở nên lớn khôn mạnh mẽ… Tôi đến bên, nắm lấy tay cậu. Chúng tôi cùng lặng nhìn dòng sông cuộn mình. Làn nước trĩu nặng phù sa, dạt dào từng đợt, mải miết vỗ nhẹ đôi bờ. Mặt trời lên, những tia nắng óng vàng như lụa, rải khắp núi rừng. Cả một triền sông bỗng bừng lên rực sáng. Mặt nước nhấp nhô lấp loáng, đẹp như vừa được một người thợ kim hoàn tài ba, dát vàng lên những ngọn sóng.

Qua bến Lệ Am, sông Cái thân thương vẫn lặng lẽ, lững lờ trôi. Nhưng dưới đáy của nó, ít ai biết được rằng, vẫn đang cuộn lên một sự sống diệu kì, mà chỉ có người dân quê ở nơi đây mới cảm nhận được.


(Hết)

Nguyễn Công Tiến

Chú ý: Chỉ được phép đăng lại bài khi có sự đông ý của báo NguoiViet.de hoặc tác giả!

 Từ khóa: sân bay Bạch Mai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Cảm nhận mới nhất
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây